Địa Chính trị, Quân sự, Biển Đông

Trung Quốc lại loan báo tăng xây dựng hạ tầng cơ sở tại Hoàng Sa

9:09:00 PM |


Đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa của Việt Nam, bị Trung Quốc đổi tên thành Vĩnh Hưng (hoangsa.org)
Đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa của Việt Nam, bị Trung Quốc đổi tên thành Vĩnh Hưng (hoangsa.org)

Trọng Nghĩa
Truyền thông Trung Quốc hôm qua, 26/10/2012 lại cho biết : Lãnh đạo tỉnh Hải Nam vừa loan báo các kế hoạch nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng tại “thành phố Tam Sa”. Đây là đơn vị hành chánh mà Bắc Kinh vừa thành lập trên đảo Phú Lâm thuộc vùng quần đảo Hoàng Sa mà họ đã chiếm của Việt Nam từ năm 1974.

Kế hoạch tăng tốc xây dựng cơ sở này không ngoài mục tiêu áp đặt một tình trạng đã rồi trên một vùng lãnh thổ mà Trung Quốc đã đánh chiếm bằng võ lực.
Theo Tân Hoa Xã, phát biểu tại một cuộc hội thảo hôm 25/10 về khai thác đại dương, tổ chức tại Hải Nam, tỉnh chủ quản của Tam Sa, ông Tưởng Định Chi, Chủ tịch tỉnh Hải Nam tuyên bố “sẽ đẩy mạnh các dự án xây dựng tại Tam Sa trong các lãnh vực giao thông, viễn thông, cung cấp điện nước, hậu cần và xử lý chất thải”.
Nhân vật này đồng thời cho biết là tỉnh của ông cũng sẽ ưu tiên cho việc xây dựng các cơ sở phục vụ công cuộc khai thác tài nguyên, cũng như hỗ trợ việc phát triển ngành thủy sản, du lịch và dầu khí.
Đây không phải là lần đầu tiên mà Trung Quốc loan báo kế hoạch tăng tốc xây dựng hạ tầng cơ sở trên đảo Phú Lâm. Vào tháng 9 vừa qua, Tân Hoa Xã cũng đã loan tải nhưng thông tin tương tự.
Xin nhắc lại là vào tháng 7/2012, Trung Quốc đã siết chặt thêm quyền khống chế của họ trên vùng quần đảo Hoàng Sa khi cho cho lập ra “Tam Sa”, đơn vị cấp thành phố chịu trách nhiệm cai quản ba nhóm quần đảo mà Trung Quốc tự nhận chủ quyền tại vùng Biển Đông trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền.
Bắc Kinh đã quyết định đặt trụ sở chính của thành phố Tam Sa đó trên đảo Phú Lâm - hòn đảo lớn nhất vùng Hoàng Sa được đổi tên thành Vĩnh Hưng - thành lập một đơn vị quân đồn trú tại Tam Sa mà bộ chỉ huy cũng đặt tại Phú Lâm, và liên tiếp có những động thái khẳng định đây là vùng lãnh thổ của Trung Quốc mà gần đây nhất là cho tổ chức kỷ niệm Quốc khánh ngay trên đảo Phú Lâm.
Chính quyền Việt Nam đã liên tục phản đối các hành vi của Bắc Kinh nhằm áp đặt chủ quyền Trung Quốc trên Hoàng Sa nói riêng và Biển Đông nói chung, cho đấy là những hành động “xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.
Read more…

Con gái người lính Trường Sa mắc bệnh hiểm nghèo

6:34:00 PM |

Sau 16 năm lấy nhau, vợ chồng thượng úy Hoàng vui mừng đón đứa con đầu lòng nhờ thụ tinh ống nghiệm. Nhưng bé gái mới sinh đã thiếu máu, anh chị bán cả nhà lấy tiền chạy chữa cho con mà vẫn chưa phát hiện ra bệnh.

Trong căn phòng trên tầng 6 Viện Huyết học Truyền máu Trung ương (Hà Nội), thượng úy Phan Văn Hoàng cẩn thận điều chỉnh dây truyền dịch cho con gái Phan Thị Thu Hoài đang ngậm ti mẹ ngủ say. Trên giường bệnh, cô bé hơn một tuổi đã phải trải qua hai lần chọc tủy và 13 lần truyền máu.

Lần truyền máu mới đây nhất ở Viện Huyết học, bé khóc thét lên đau đớn khiến ba mẹ em ngồi cạnh giữ cũng khóc theo con. Cả nhà ra Hà Nội được một tuần nhưng các bác sĩ vẫn chưa thể tìm được bệnh của bé Hoài. Không quen khí hậu, cả mẹ và con đều mệt mỏi, kém ăn.

Chờ vợ con thiu thiu ngủ, thượng úy Hoàng lặng lẽ ra hành lang ngồi một mình. Chiến sĩ hải quân nước da sạm đen vì nắng gió giữ khuôn mặt bình tĩnh suốt cuộc trò chuyện, chỉ đôi lần anh nhoẻn miệng cười khi nói về con, rồi lại ngậm ngùi lúc nhắc tới sự hy sinh, cam chịu của vợ - chị Ngô Thị Hằng (37 tuổi).
Để con gái ngon giấc, anh Hoàng chốc chốc lại theo dõi chai dịch truyền. Ảnh: Bình Minh.
Năm 1996, anh làm đám cưới với cô bạn gái cùng xã ở huyện Yên Thành (Nghệ An). Hai năm sau, vợ chồng anh chuyển vào Cam Ranh (Khánh Hòa) theo phân công của đơn vị. Năm 2000, anh bắt đầu ra đảo công tác, còn chị ở nhà tần tảo buôn bán và lo toan công việc gia đình hai bên. Sau hơn một năm sống trên đảo, anh lại được chuyển về đất liền chừng ấy thời gian rồi lại ra ngoài đó công tác. Lấy vợ 16 năm thì anh đã có 6 năm ở ngoài đảo.

Chừng ấy thời gian chung sống là chừng ấy năm vợ chồng anh chạy chữa từ Bắc vào Nam chỉ mong có một mụn con. Làm được đồng nào, vợ chồng lại tích cóp để chạy chữa. "Vái tứ phương" đến lúc hết tiền, chị Hằng lại về chạy chợ kiếm tiền để đi chữa chỗ khác. Chữa trị không có kết quả, vợ chồng anh tìm đến phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm.

Quyết tâm có con, hai vợ chồng vay mượn để vào Sài Gòn thụ tinh. Mỗi lần riêng tiền cấy phôi đã là 19 triệu đồng, chưa kể tiền thuốc, ăn, ở. Mỗi mũi tiêm trung bình 1,5 - 3 triệu đồng, đắt nhất là 6 triệu đồng. Có lần, sáng hôm sau là tới kỳ cấy phôi mà cả nhà chỉ còn 2 triệu đồng. Không người quen ở Sài Gòn, anh đành phải gọi điện từ đảo về vay tiền anh em, bạn bè ở quê cho vợ đến viện. Tổng cộng ba lần cấy phôi đã ngốn hết 200 triệu đồng.

Ròng rã suốt một năm, chị Hằng sống ở viện nhiều hơn ở nhà. Thấy vợ quá mệt mỏi và chán nản, anh Hoàng phải liên lục gọi điện động viên, an ủi. Vốn khỏe mạnh nhưng mãi không có con lại suy nghĩ nhiều nên chị đâm ra hay ốm yếu. Chỉ cần ai đó nói chạm tới thiên chức làm mẹ, chị đã chạnh lòng và tủi thân khóc.
"Là phụ nữ khi lấy chồng, ai cũng muốn có con. Chiều đến thấy con nhà hàng xóm khóc, khao khát trong cô ấy lại trỗi dậy. Tôi đi công tác xa, vợ ở nhà có đứa con cũng đỡ buồn tủi. Nhiều lúc nghĩ thương vợ vô cùng", anh Hoàng tâm sự.

Kiên trì và cố gắng, đến lần thứ ba, anh chị hạnh phúc khi biết mình sắp lên chức. Nhưng không giống như sinh tự nhiên, khi mang bầu, chị phải kiêng cữ rất cẩn thận và chỉ nằm một chỗ. Suốt nhiều tháng, anh ở bên và chăm sóc vợ.

Ngày chị Hằng sinh, anh ở ngoài đảo và hồi hộp chờ tin tức từ người nhà. Vợ sinh mổ, anh chỉ chuẩn bị được vài triệu và lại gọi điện thoại "chỉ đạo" người thân vay mượn thêm tiền. 20h tối, con gái anh chào đời. Anh dự định hôm sau làm vài mâm cơm mời anh em, bạn bè mừng mình lên chức bố.

"Mọi thứ đã chuẩn bị sẵn, danh sách những người giúp đỡ đã lên thì 24h đêm tôi nhận được điện thoại về tình trạng thiếu máu rất nguy hiểm của con. Tôi cố gắng bình tĩnh, không tiết lộ cho mọi người ở đơn vị để mọi thứ hôm sau vẫn diễn ra bình thường", thượng úy Hoàng chia sẻ.

Ba ngày sau, đơn vị trong đất liền gọi điện ra đảo báo tin, mọi người mới biết hoàn cảnh của anh Hoàng. Nhiều người trách anh có trái tim thép, "con như thế mà vẫn cười nói" nhưng anh chỉ bảo, "buồn cũng không làm được gì, phải cứng rắn rồi mọi chuyện sẽ giải quyết được".

Chiến sĩ hải quân tâm sự, bản lĩnh người lính rèn cho anh sự bình tĩnh và mạnh mẽ. Ở vào hoàn cảnh đó, anh không thể ngồi khóc lóc, đau buồn để sinh ốm đau, khổ vợ và ảnh hưởng tới đơn vị, nhiệm vụ. Tuy nhiên, khi đêm về, anh mới "dám" buồn, nghĩ ngợi và khóc.

"Tôi xác định, nếu số con ở được với mình thì hạnh phúc còn không thì phải chấp nhận. Dù cứng rắn tới mấy, lúc chỉ có một mình, nghĩ thương vợ, tội con, tôi đã khóc", anh Hoàng nói rồi hướng ánh mắt về phòng nơi vợ con đang nằm.
Bé Hoài không ăn được gì ngoài bú sữa mẹ. Ảnh: Bình Minh.
Từ khi sinh ra, bé Hoài cùng mẹ phần lớn ở trong viện, hết bệnh viện ở Cam Ranh đến Sài Gòn. Mỗi tháng, bé đi truyền máu một lần. Nếu không được truyền, bé sẽ mệt mỏi, da xanh - vàng. Chuyển hết viện này đến viện khác nhưng các bác sĩ vẫn chưa tìm ra bệnh của bé. Xót con và cũng muốn biết bệnh để điều trị, vợ chồng anh Hoàng đưa bé ra Viện Huyết học ở Hà Nội.

Nhắc đến vợ, thượng úy Hoàng xúc động cho biết, anh phục chị ở tính đảm đang, chịu khó và cảm thông với công việc của chồng. Trước khi đến với nhau, hai người từng là bạn bè nên hiểu rõ tính cách. Lấy nhau không có con, gia đình anh từng ép anh bỏ vợ để lấy người khác.

"Gia đình phong kiến, bố tôi lại khó tính, không cho xin con nuôi và muốn con trai lấy vợ khác. Tôi cương quyết nói đây là chuyện riêng và đã là vợ chồng thì cùng phải chia sẻ", anh Hoàng cho hay.

Đã vài lần trong lúc tủi thân, chị Hằng khuyên chồng nên đi lấy vợ khác. Hiểu suy nghĩ của vợ, anh lại động viên để chị vững vàng. Suốt thời gian chạy chữa để có con, đến giờ, gia tài lớn nhất của vợ chồng anh là bé Hoài. Nhà cửa và đồ đạc trong nhà chẳng còn gì nhưng để có con và con được sống, anh chị vẫn quyết tâm.
"Nhà cũng bán rồi. Giờ ở nhà trọ chỉ có một cái giường và mấy cái xoong để vợ chồng nấu ăn thôi. Vay quá nhiều giờ vợ chồng tôi chẳng dám vay lãi nữa vì lấy đâu mà trả. Chuyến ra Hà Nội, nhờ sự trợ giúp của các nhà hảo tâm, anh em, bạn bè và đơn vị tạo điều kiện, tôi mới có tiền đưa con đi viện", người lính đảo nói.
Giờ đây, mong muốn lớn nhất của vợ chồng anh Hoàng là biết chính xác bệnh tình của con để chữa bệnh cho cháu. Dù đã hết đợt nghỉ phép, anh vẫn xin đơn vị ở thêm vài ngày để biết kết quả xét nghiệm tủy của con gái.
Bình Minh

Thông tin nhân vật

Bé Phan Thị Thu Hoài, phòng 609, khoa Bệnh máu trẻ em, Viện Huyết học Truyền máu Trung ương, 14 Trần Thái Tông, Cầu Giấy, Hà Nội.
Điện thoại chị Ngô Thị Hằng (mẹ bé Hoài): 01695. 099. 328
Hoặc anh Phan Văn Hoàng, số tài khoản 1305 2050 99785 - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, chi nhánh Tràng An.
VnExpres

Read more…

Khai mạc cuộc họp Nội các chung Việt Nam – Thái Lan lần 2

6:08:00 PM |

QĐND Online- Thực hiện thỏa thuận giữa hai Chính phủ Việt Nam và Thái Lan, cuộc họp Nội các chung hai nước lần 2 đã khai mạc sáng 27-10 tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Hà Nội. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra đồng chủ trì cuộc họp.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đón Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra dự họp nội các chung

Ngay sau phiên khai mạc, các Phó thủ tướng và các Bộ trưởng đã họp theo 3 nhóm: Chính trị - An ninh, Kinh tế và Văn hóa – Xã hội.
Cuộc họp Nội các chung Việt Nam - Thái Lan lần này đánh giá việc thực hiện những thỏa thuận đạt được tại cuộc họp Nội các chung lần thứ nhất năm 2004 tại Đà Nẵng và Nakhon Phanom. Hai bên cũng trao đổi về một số vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm và bàn thảo các biện pháp tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới.
Quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Thái Lan tiếp tục được duy trì và phát triển tốt trong thời gian qua. Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 11-2011, Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra đã chủ động đề xuất nâng quan hệ hai nước lên đối tác chiến lược.
Hợp tác quốc phòng Việt Nam – Thái Lan tiếp tục được thúc đẩy trên cả khuôn khổ song phương và đa phương như ADMM, ADMM+, ARF. Nhân chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Thái Lan đến Việt Nam từ 25 đến 27-9, Bộ Quốc phòng hai nước đã ký kết Bản ghi nhớ (MOU) về hợp tác quốc phòng giữa Thái Lan và Việt Nam, tạo cơ sở thiết lập cơ chế hợp tác trong lĩnh vực quân sự và đưa quan hệ quốc phòng hai bên đi vào chiều sâu.
Thành viên hai Nội các chụp ảnh chung

Việt Nam và Thái Lan đã phối hợp tốt trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, hai bên cam kết ngăn chặn bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào sử dụng lãnh thổ nước này hoạt động chống lại nước kia.
Quan hệ hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư phát triển mạnh mẽ. Kim ngạch thương mại Việt - Thái năm 2011 đạt xấp xỉ 8,17 tỷ USD. Việt Nam hiện là bạn hàng nhập khẩu thứ 9 và đối tác xuất khẩu thứ 17 của Thái Lan. Các mặt hàng của Việt Nam xuất sang Thái Lan chủ yếu các mặt hàng thuộc nhóm sắt thép, máy tính, linh kiện điện tử, thuỷ sản. Việt Nam nhập từ Thái Lan chủ yếu thuộc nhóm xăng dầu, máy móc thiết bị, linh kiện phụ tùng ô tô, xe máy, chất dẻo nguyên liệu.
Kỳ họp thứ nhất Ủy ban Hỗn hợp thương mại Việt Nam - Thái Lan được tổ chức ngày 12-7-2012 tại Hà Nội, theo đó, hai bên phấn đấu tăng kim ngạch trao đổi thương mại từ nay đến 2015 lên 20% mỗi năm; tiếp tục thực hiện thỏa thuận giữa hai nước về hợp tác gạo.
Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và Đại tướng Sukumpol Suwanatat, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Thái Lan đồng chủ trì cuộc họp nhóm Chính trị - An ninh

Tính đến hết tháng 9-2012, Thái Lan có 292 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 6 tỷ USD, đứng thứ 10 trong 96 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam.
Về hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, hai nước tập trung chủ yếu vào vấn đề cung cấp học bổng và hỗ trợ nhau trong việc dạy tiếng Thái và tiếng Việt ở mỗi nước. Đáng chú ý, ngày 8-6-2012, Việt Nam đã phê chuẩn Hiến chương AIT do Viện Công nghệ châu Á (AIT) của Thái Lan khởi xướng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam với Thái Lan cũng như các nước tham gia Hiến chương.
Hiện nay có khoảng 100.000 Việt kiều đang sinh sống tại Thái Lan. Trong các chuyến thăm song phương vừa qua, phía Thái Lan khẳng định tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho Việt kiều và các tổ chức Hội Việt kiều phát triển, giúp đỡ cộng đồng người Việt Nam ổn định cuộc sống, hội nhập và thành đạt, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và gắn bó với quê hương, đất nước.
Bài, ảnh: VIỆT BÁCH – LÂM TOÀN
Read more…

Giữ lại tên biển “Nam Trung Hoa” là không hợp lý

2:01:00 PM |

Hồ sơ Biển Đông hồi tháng 9 lại nóng lên xoay quanh tên gọi của vùng biển tranh chấp với nhiều câu chuyện tranh cãi.
Ngày 5-9, Tổng thống Philippines Benigno Aquino đã thông qua Lệnh hành chính 29 (AO) chính thức gọi là “Biển Tây Philippines” trên bản đồ hành chính. Việc đổi tên này, theo phía Philippines, nhằm khẳng định lại vùng lãnh hải mà Nhà nước Cộng hòa Philippines nắm chủ quyền và có quyền tài phán.
Từ lâu, vùng Biển Đông theo cách gọi của Việt Nam có tên tiếng Anh được biết dưới tên gọi “Biển Nam Trung Hoa” (South China Sea) – được sử dụng phổ biến trong các văn bản chính thức xuất phát từ những thủy thủ người Bồ Đào Nha vào thế kỷ XVI trong quá trình tìm kiếm cơ hội giao thương với Trung Hoa. Lúc đầu là “Biển Trung Hoa” (China Sea), sau đó để phân biệt với các vùng biển khác bao quanh đại lục, nó được gọi lại là “Biển Nam Trung Hoa”. Tổ chức Thủy văn Quốc tế (International Hydrographic Organization – IHO, trụ sở đóng tại công quốc Monaco) cũng đã sử dụng tên gọi “Biển Nam Trung Hoa”.
Xét chiều dài lịch sử, xuất hiện nhiều tên gọi vùng biển này từ các nước khác nhau trong khu vực. Trước thế kỷ XVI, vương quốc Champa, một quốc gia hướng biển hùng mạnh, đã gọi vùng này là “Biển Champa” (Champa Sea). Nhật Bản thì gọi là “Minami Shina Kai” vốn cũng mang nghĩa là vùng biển phía nam của Trung Hoa, tương tự với tên gọi khác của các nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia hay Thái Lan. Philippines sử dụng tên gọi “Biển Luzon”. Cũng phải lưu ý thêm rằng, trong các thư tịch cổ của Trung Quốc có nhắc đến tên “Giao Chỉ Dương” hay biển Giao Chỉ (Giao Chỉ là tên gọi của Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc). Tại Việt Nam, hầu hết lãnh thổ hướng chính ra biển là hướng đông nên danh từ “Biển Đông” dùng để gọi tên vùng biển phía Đông Việt Nam.
Các tên biển đã xuất hiện từ thời xa xưa như “Biển Nhật Bản” hay “Biển Nam Trung Hoa” vô hình trung đã khiến cho các nước có tên liên quan như Nhật Bản hay Trung Quốc có được một lợi thế lớn. Họ đã dựa vào đó nhằm tự hợp pháp hóa các lợi ích của mình và xem đó như “các chứng cứ lịch sử” bất chấp sự thật rằng những cái tên đó chỉ nhằm mục đích tạo ra một sự thuận tiện trong giao thông hàng hải. Do đó, nếu chỉ dựa vào tên biển để khẳng định chủ quyền thì sẽ không ổn bởi nếu biển Nam Trung Hoa là biển của Trung Quốc thì Ấn Độ Dương (India Ocean) sẽ là của Ấn Độ và Mexico có thể tuyên bố vịnh Mexico (Gulf of Mexico) thuộc về mình.
Đường chín đoạn phi lý của Trung Quốc chiếm đến 80% diện tích Biển Đông
Đường chín đoạn phi lý của Trung Quốc chiếm đến 80% diện tích Biển Đông
Qua đó có thể nhận thấy việc giữ lại tên gọi “Nam Trung Hoa” là không hợp lý. Thực chất, có tên gọi biển “Nam Trung Hoa” vì lúc đó, Trung Quốc là quốc gia lớn nhất, phát triển hơn so với các quốc gia khác cũng như đã có giao thương với phương Tây. Tên gọi của một vùng biển hay đại dương nào đó thường căn cứ vào vị trí của chúng so với vùng đất gần đó cho dễ nhận biết và không có ý xác định chủ quyền. Một vài ví dụ như Ấn Độ Dương ở phía nam Ấn Độ, biển Nhật Bản được bao quanh bởi nhiều quốc gia khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên hay Nga. Nếu xét về địa dư, Đông Nam Á bao bọc hầu như toàn bộ chu vi của Biển Đông với tổng chiều dài bờ biển vào khoảng 130.000km trong khi đường bờ biển của các tỉnh duyên hải phía nam Trung Quốc chỉ vào khoảng 2.800km.
Trên góc nhìn thông lệ quốc tế, không tồn tại một nguyên tắc thống nhất. Việc đặt tên thường dựa vào ý chí chủ quan của một người hay một nhóm người khi họ sử dụng những đặc điểm hay tính chất của vùng biển đó. Tên “Vịnh Ba Tư” là do hai nhà sử học Hy Lạp đặt theo tên của đế quốc Ba Tư hùng mạnh lúc bấy giờ, Địa Trung Hải theo tiếng Latin là “trung tâm của thế giới”, Biển Đỏ với màu đỏ của một loài tảo đặc trưng hay biển Bering được đặt theo tên của một nhà thám hiểm người châu Âu thế kỷ XVIII có tên Vitus Bering…
Hiện nay, Liên Hiệp Quốc có một số cơ chế tham vấn nhằm chuẩn hóa các tên gọi địa lý ở cấp độ quốc gia và phổ biến những tên gọi ấy ra thế giới như “Hội nghị Liên Hiệp Quốc về chuẩn hóa tên gọi địa lý” (UNCSGN) hay “Nhóm các chuyên gia Liên Hiệp Quốc về tên gọi địa lý” gọi tắt là UNGEGN. Tổ chức Thủy văn quốc tế cũng đóng vai trò là một diễn đàn để các quốc gia thành viên có thể thảo luận về các vấn đề liên quan đến biển và đại dương. Một trong các chức năng của tổ chức là giúp đưa ra các quy định về việc đặt tên cũng như tiến hành đo đạc các khu vực biển. Tuy nhiên, việc thỏa thuận cụ thể về tên gọi vẫn phải do các nước có liên quan tự thỏa thuận với nhau. Điển hình như trường hợp của Biển Nhật Bản, với việc cả Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đều phản đối cách gọi tên như vậy. Thế nhưng tại cuộc họp của UNCSGN vào năm 1992 và cả hai lần tiếp theo vào các năm 1998 và 2002, Hội đồng cũng chỉ yêu cầu các nước liên quan ngồi lại với nhau để tìm ra được tiếng nói chung.
Khoảng một năm trở lại đây, cuộc tranh luận về tên gọi của Biển Đông trở nên nóng hơn với ba đề nghị khác nhau. Trung Quốc vẫn muốn giữ nguyên tên hiện nay là “Biển Nam Trung Hoa”, Philippines muốn gọi là “Biển Tây Philippines” (West Philippines Sea), còn Việt Nam lâu nay vẫn gọi là Biển Đông. Gần đây một số học giả – sử gia kiến nghị đổi tên thành “Biển Đông Nam Á” (Southeast Asia Sea) là khá phù hợp vì đây là một tên biển không phụ thuộc vào địa lý của một quốc gia.
Khá nhiều chuyên gia đã đánh giá việc đổi tên Biển Đông là rất cần thiết trong bối cảnh các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc với năm nước có tranh chấp chủ quyền chưa đạt được nhiều chuyển biến mang tính bước ngoặt. Do đó, theo ý kiến của ông Termsak Chalermpalanupap, Giám đốc ban điều hành An ninh và Chính trị của ASEAN, đổi tên Biển Đông thành những cái tên trung lập hơn như Biển Thân thiện (Friendly Sea) hay Biển Hòa bình (Sea of Peace) có thể sẽ là chìa khóa của những bước đầu tiên mở ra khả năng tái thương lượng và giải quyết các tranh chấp đang hiện hữu.
Vũ Thành Công – Nguyễn Thế Phương(DNSG)
Read more…

Việt Nam và Ukraina phát triển hợp tác trong lĩnh vực đóng tàu quân sự

2:10:00 AM |


Theo "Interfax-Ukraine", dẫn nguồn từ bộ phận báo chí của Tổ hợp nghiên cứu sản xuất "Zorya-Mashproekt" (Nikolaiv), trong quá trình chuyến thăm nhà máy hôm thứ năm của đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Quốc phòng Thượng tướng Trương Quang Khánh và Phó Tư lệnh Hải quân Chuẩn Đô đốc Nguyễn Văn Ninh dẫn đầu, phía Ukraina và Việt Nam đã thảo luận dự án hợp tác để xây dựng trạm sửa chữa và kiểm tra bảo trì tua bin khí cho các tàu hải quân Việt Nam.
"Các thành viên trong đoàn đã đến thăm xưởng sản xuất và lắp ráp, cũng như cơ sở kiểm tra tuabin khí, được thiết kế cho lực lượng hải quân Việt Nam", bộ phận báo chí cho biết.

VOR
Read more…

"18 chiếc Su-30K" vẫn chưa ngã ngũ

9:58:00 PM |

Lô hang gồm 18 chiếc Su-30K đang được các quốc gia Đông Nam Á (SEA) và châu Phi quan tâm, hôm thứ Tư, Tổng giám đốc "Rosoboronexport" khẳng định tại triển lãm kỹ thuật hàng hải "Euronaval 2012", RIA Novosti đưa tin. 

Nga chuyển giao 18 máy bay chiến đấu Su-30K cho Ấn Độ trong nửa cuối những năm 1990. Sau khi bắt đầu giao hàng quy mô lớn máy bay hiện đại hóa Su-30MKI, Ấn Độ từ chối lô máy bay Su-30K. Trong năm 2008, Ấn Độ trả lại cho Nga 18 Su-30MKI và trả tiền chênh lệch giá.

Các máy này được bảo quản tại nhà máy sửa chữa máy bay Baranovichi (Belarus) để tránh phải trả thuế nhập khẩu vào Nga, trong khi tìm kiếm người mua. 

"Chúng tôi có 18 chiếc Su-30K, tái nhập khẩu từ Ấn Độ, đang để tại Belarus. Các nước trong khu vực Đông Nam Á và châu Phi quan tâm đến lô máy bay này," - ông Isaikin cho biết. 

Ông nhấn mạnh rằng trong trường hợp ký hợp đồng mua bán, Nga sẵn sàng cải tạo và nâng cấp các loại vũ khí hiện đại cho máy bay. 

Theo Trung tâm Phân tích buôn bán vũ khí thế giới (TSAMTO, Nga), Việt Nam và Sudan thể hiện sự quan tâm đến lô 18 máy bay Su-30K. Chi phí của lô hàng, theo TSAMTO, có thể lên tới 270 triệu USD, dựa trên mức giá một máy bay chiến đấu đã hiện đại hóa là khoảng 15 triệu $. 

http://vietnamese.ruvr.ru/2012_10_25/92388255/
Read more…

Trung Quốc và Đài Loan bắt tay trên đường “lưỡi bò”

6:43:00 AM |

(Dân trí) - Tân Hoa xã ngày 23/10 dẫn lời Việt trưởng Viện Nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc cho biết một nhóm học giả Trung Quốc và Đài Loan sẽ cùng nhau nghiên cứu các đường biên giới và các vấn đề khác liên quan đến Biển Đông.






Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc, ông Ngô Sĩ Tồn, đã cho biết thông tin trên trong cuộc họp báo nhằm giới thiệu bản Phúc trình về Biển Đông 2011. Phát biểu với báo chí, ông cho biết: “Nhiệm vụ quan trọng nhất là để bắt đầu công cuộc nghiên cứu lý thuyết về đường chữ U”. Ông cho biết  trong vòng một năm tới đây Bắc Kinh dự tính đưa ra giải thích pháp lý cùng với những tuyên bố đáp lại quan tâm của quốc tế về vấn đề Biển Đông, giải thích rõ về đường chữ U chín đoạn , hay còn được gọi là đường lưỡi bò, mà Bắc Kinh nhận chủ quyền trên vùng biển này.
Ông cũng không ngần ngại thừa nhận rằng trên hồ sơ Biển Đông, Trung Quốc và Đài Loan hoàn toàn tâm đầu ý hợp, do Biển Đông có vai trò hết sức quan trọng đối với lợi ích chung của cả Trung Hoa lục địa và Đài Loan.

Đường chữ U, còn được gọi là đường 9 đoạn hay “lưỡi bò” là đường ranh giới được Trung Quốc đơn phương đưa ra để đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ ở vùng Biển Đông.

Tấm bản đồ với các ranh giới trên biển đã được chính quyền Quốc Dân Đảng cầm quyền tại Trung Quốc vẽ ra từ trước khi họ phải chạy tới đảo Đài Loan vào năm 1949, nhưng hầu như không được nhắc đến trong một thời gian dài. Thế nhưng, vào tháng 5/2009, trong một văn kiện chuyển cho Liên Hiệp Quốc, Bắc Kinh đã đơn phương sử dụng tấm bản đồ này để khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên hầu như toàn bộ Biển Đông.

Từ đó đến nay, tấm bản đồ hình lưỡi bò đã bị hầu hết giới nghiên cứu trên thế giới khẳng định không có cơ sở pháp lý, không phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 mà chính Trung Quốc đã ký kết. Trước những lời phê phán kể trên, phía Trung Quốc đã không có lời giải thích thỏa đáng, mà chỉ viện dẫn “chủ quyền lịch sử” để bảo vệ quan điểm của mình.

Bản phúc trình về Biển Đông 2011 vừa công bố được hơn một chục học giả của Đài Loan và Trung Quốc thực hiện, kêu gọi sự hợp tác tích cực, thực tế, và lành mạnh để mang lại lợi ích "cho toàn bờ cõi Trung Quốc".

Ông Ngô Sĩ Tồn đề nghị đôi bên tăng cường lòng tin chính trị lẫn nhau để phát huy hợp tác trong các vấn đề liên quan tới Biển Đông thông qua việc thành lập các cơ chế phối hợp quân sự và cùng bắt tay phát triển dầu khí trên Biển Đông.

Tuy nhiên, hôm 21/5, người đứng đầu Cục An ninh Nội địa của Đài Loan đã tuyên bố sẽ không có chuyện hợp tác với Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến tranh chấp ở Biển Đông. Ông Tsai De-sheng cũng cho biết là Philippines từng đề nghị Đài Loan không hợp tác với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

Bắc Kinh hiện đang tranh chấp với đảo Đài Loan, Nhật Bản và các nước Đông Nam Á bao gồm Việt Nam, Philippines, Brunei, và Malaysia, tuyên bố chủ quyền hầu như toàn bộ lãnh hải ở Biển Đông. 

Vũ Quý
Theo AFP, AP
Read more…

Nước Pháp với Biển Đông: Đối với Trường Sa

6:19:00 AM |

Nguyễn Ngọc Trường
(Toquoc)- Nước Pháp nhận thức tầm quan trọng Hoàng Sa, Trường Sa đối với phòng thủ Đông Dương, đã tiếp quản 2 quần đảo này với tư cách nhà nước bảo hộ.

Cuốn sách của Luật sư người Pháp Monique Chemillier-Gendreau, giáo sư công pháp quốc tế của Trường Đại học Paris, nguyên Chủ tịch Hội luật gia châu Âu, dưới nhan đề  “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, được xuất bản tại Paris tháng 3/1996. Cuốn sách dựa trên việc nghiên cứu các hồ sơ gốc các giao dịch của chính phủ Paris và chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương, cũng như các tài liệu của phía Việt Nam được gửi về Paris để nghiên cứu cơ sở pháp lý của việc Pháp chiếm hữu Trường Sa, cũng như Hoàng Sa.
Bà Monique Chemillier-Gendreau viết: “Đối với các đảo Trường Sa, sự tồn tại của chúng chắc chắn đã được biết đến. Không có gì cho phép khẳng định rằng Trung Quốc đã chiếm hữu các đảo này. Việc quản lý các đảo Trường Sa (Spratleys) đồng thời với các đảo Hoàng Sa (Paracels) của các chúa Nguyễn  từ thế kỷ XVIII là một giả thuyết có thể thừa nhận. Trong hồ sơ không có dấu hiệu về mối quan tâm của Indonesia, Malaisia hay Philippines đối với quần đảo này trong thời kỳ đó.
Theo sách của bà Monique Chemillier-Gendreau, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp hỏi lãnh sự Pháp ở Manila về những yêu sách có thể có của Philippines. Ngày 22/3/1929, ông này đã phúc đáp nhấn mạnh đến việc không quan tâm của Philippines.
Thông báo hạm của hải quân Pháp Malicieuse thực hiện chiếm đóng đảo Ba Bình ngày 18/4/1930. Trong chiến dịch này, pháo hạm của Pháp đã chiếm một số đảo khác thuộc quần đảo Trường Sa
Trung Quốc không có chút yêu sách nhỏ nào
Đối với quần đảo Trường Sa, trong hồ sơ của Pháp “không có chút yêu sách nhỏ nào của Trung Quốc trong suốt thời kỳ thuộc địa”.
Các hồ sơ và giao dịch của Chính phủ Pháp và giữa Paris với các chính quyền thuộc địa ở Đông Dương, được Luật sư Chemillier-Gendreau công bố trong Phụ lục cuốn sách của mình, cho thấy từ năm 1929-1930, trước các mưu toan của Nhật Bản xâm chiếm các đảo thuộc Trường Sa có thể tạo nên sự uy hiếp đối với Đông Dương, nước Pháp đã thực hiện chiếm đóng một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa và thiết lập quyền kiểm soát hành chính trên các đảo chiếm đóng, kể cả đảo Ba Bình ngày nay do Đài Loan chiếm đóng. Cờ Pháp đã được kéo lên hòn đảo chính. Một cột mốc kỷ niệm trong đó có các tư liệu liên quan đến việc chiếm hữu đã được dựng lên. Việc chiếm hữu đã được đăng trên Công báo của Cộng hòa Pháp và sáp nhập Trường Sa vào một huyện hành chính của An Nam thuộc tỉnh Bà Rịa. Các nước ngoài đã được thông báo về việc này. Nước Anh đã ghi nhận mặc dù  họ nhận xét rằng trước đây đã có một tàu Anh đến thăm quần đảo này. Bộ thuộc địa, thống nhất với Bộ Ngoại giao Pháp, đã quyết định  thể hiện sự có mặt của nước Pháp ở quần đảo Trường Sa bằng cách phái đến  đó những lính cảnh vệ An Nam đồn trú. Pháp đã đặt ở đó một trạm vô tuyến điện, và những người ở đó được tiếp tế định kỳ bằng một tàu chở hàng từ Trung Kỳ tới. Về phương diện ngoại giao, Chính phủ Pháp, trong các cuộc trao đổi với Chính phủ Nhật Bản đã viện dẫn Hiệp ước Nhật-Pháp 1907, khẳng định tính hợp pháp của các quyền của mình đối với quần đảo và để tránh không làm cho cuộc xung đột trở nên gay gắt hơn, thậm chí đã xét đến việc đưa vấn đề lên một cơ quan trọng tài quốc tế. Nhưng người Nhật Bản đã từ chối.
Ngày 19/3/1926, Thống đốc Nam Kỳ cấp giấy phép nghiên cứu mỏ ở đảo Trường Sa cho Công ty Phosphat mới của Bắc Kỳ.
Ngày 8/3/1929, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp điện cho Thống đốc Nam Kỳ, viết rằng “đồng ý với ông, tôi không phản đối việc cấp giấy phép thăm dò mỏ cho Công ty phốt phát Bắc Kỳ trên đảo Trường Sa… Do đó, tôi yêu cầu coi đảo Trường Sa  như được sáp nhập về mặt hành chính vào Bà Rịa”.
Chiến dịch chiếm hữu đảo Trường Sa bằng tàu Malicieuse được đề nghị vào tháng 10/1929 đã bị hoãn lại do điều kiện khí hậu không thuận lợi. Cuối cùng nó cũng đã bắt đầu được thực hiện vào ngày 13/4/1930, hải quân Pháp đã đổ bộ và chiếm các đảo nhỏ, đá ngầm giữa vĩ tuyến 7o và 12o Bắc và ở phía Tây vùng tam giác của Philippines. Bộ trưởng Quốc phòng Pháp đã thông báo cho Bộ trưởng Ngoại giao Pháp biết rằng việc chiếm hữu các đảo nhỏ này là “để tránh  việc một cường quốc nước ngoài yêu sách chủ quyền trên đó”… Việc chiếm đóng này là “đủ để khẳng định chủ quyền của chúng ta trên hầu như toàn bộ khu vực đã được biết rõ của quần đảo này”.
Thư của Cao ủy Pháp tại Đông Dương, Thượng tướng P. Jacquot, gửi Tổng trưởng phụ trách quan hệ với các quốc gia liên kết của chính phủ Pháp, ngày 16/6/1955, đã làm rõ việc Pháp chiếm hữu đảo Ba Bình và quần đảo Trường Sa, nêu rõ: “Đảo Ba Bình “vô chủ” trước kia đã được sáp nhập về mặt hành chính  vào Nam Kỳ năm 1929. Việc chiếm hữu chính thức được pháo hạm “Malicieuse” thực hiện ngày 18/4/1930 và công bố trong Công báo ngày 26/5/1933. Đảo Ba Bình đã được một phân đội lính cảnh vệ của Nam Kỳ đóng giữ trong thời gian 1938-1940. Một trạm khí tượng của Pháp có lẽ đã được đặt ở đây khoảng năm 1938… Một bản ghi chú của Vụ Pháp luật Bộ Ngoại giao đề ngày 6/12/1946 khẳng định rằng việc quần đảo “vô chủ” thuộc Pháp là không gì phải tranh cãi… Mặc dù  có những ý đồ được nhắc đến ở trên (của Philippines, Trung Quốc) người ta có thể chấp nhận rằng chủ quyền của Pháp trên quần đảo Trường Sa là không thể tranh cãi được. Tuy nhiên, có thể các yêu sách của Việt Nam đối với quần đảo  Trường Sa sẽ trở nên rõ ràng  với lý do là các đảo này từ xưa đã được sáp nhập vào Nam Kỳ”.
Việc chiếm hữu các đảo thuộc quần đảo Trường Sa được tiếp tục trong năm 1933:
Ngày 7/4/1933, chiếm hữu đảo An Bang.
Ngày 10/4/1933, chiếm hữu nhóm đảo Song Tử.
Ngày 11/4/1933, chiếm hữu đảo Loại Ta.
Ngày 12/4/1933, chiếm hữu đảo Thị Tứ.
Theo Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á của Sở nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Đại học Tế Nam (Trung Quốc), kỳ I/2011, riêng năm 1933, Pháp chiếm 9 đảo ở Trường Sa.

Trên đảo Trường Sa lớn
Pháp thực thi quyền bảo hộ
Công báo của Cộng hòa Pháp ngày 26/7/1933 cho biết các đơn vị hải quân Pháp đã chiếm đóng một số hòn đảo thuộc Trường Sa. Và trong các thư của Toàn quyền Pháp ở Đông Dương ngày 24/8 và 14/9/1933 đã thông báo việc sáp nhập các đảo và đảo nhỏ thuộc nhóm Trường Sa hay Bão Tố.
Ngày 21/12/1933, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định xác định đảo có tên là Spratly và các đảo nhỏ Caye d’Amboine (An Bang), Itu-Aba (Ba Bình), cụm Song Tử,  Loại ta và Thị Tứ phụ thuộc vào đảo đó, nằm ở Biển Đông được sáp nhập vào tỉnh Bà Rịa.
Ngày 15/6/1938, Pháp xây dựng xong trạm khí tượng ở đảo Ba Bình, thuộc quần đảo Trường Sa.
Trước và trong Chiến tranh Thái Bình Dương 1941-1945, Nhật Bản chiếm đóng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, làm cứ điểm tiến đánh các thuộc địa của Anh, Pháp và Mỹ ở Đông Nam Á và kiểm soát các con đường biển ngang qua Biển Đông. Tại Hiệp ước San Francisco ngày 8/9/1951, Nhật Bản đã từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và yêu sách trên quần đảo Trường Sa cũng như Hoàng Sa và chính quyền thuộc địa Pháp và chính quyền Bảo Đại đã tái thiết lập sự kiểm soát trên các quần đảo này.
Theo Hiệp định ngày 8/3/1949, Pháp chính thức chuyển giao quyền kiểm soát quần đảo Hoàng Sa và Côn Đảo cho chính phủ Quốc gia Liên hiệp Việt Nam của Bảo Đại. Nhưng theo bức thư đề ngày 16/6/1955 kể trên của Cao ủy Pháp tại Đông Dương, P. Jacquot, Pháp vẫn “dành cho mình các quyền trên quần đảo Trường Sa”. Khi Pháp rút khỏi Đông Dương, chính quyền Sài Gòn đã tiếp quản các đảo thuộc các quần đảo Trường Sa cũng như Hoàng Sa./.


Read more…

Tàu hộ vệ tên lửa Australia đến thăm Việt Nam

11:28:00 PM |
(VnMedia) - Tàu hải quân Australia - HMAS SYDNEY sẽ thực hiện chuyến thăm thiện chí đến TP Hồ Chí Minh từ 29/10 đến 3/11/2012. Chuyến thăm này góp phần tăng cường hơn nữa quan hệ giữa hải quân hai nước cũng như quan hệ giữa Australia và Việt Nam.

Tàu hộ vệ tên lửa HMAS SYDNEY sẽ đến TP HCM mang theo thuỷ thủ đoàn bao gồm 35 sỹ quan và 194 thuỷ thủ. Sỹ quan chỉ huy tàu và thuỷ thủ đoàn sẽ gặp gỡ các sỹ quan cao cấp và thuỷ thủ của Hải quân Nhân dân Việt Nam và tham gia các hoạt động giao lưu thiện chí cũng như thực hiện trao đổi kỹ năng liên quan đến hoạt động của trực thăng trên tàu chiến.

Thuỷ thủ đoàn của HMAS Sydney cũng sẽ tham gia giao hữu thể thao với học viên trường Trung cấp Kỹ thuật Hải quân và giao hữu Bóng Đá Úc với đội Vietnam Swans tại trường Đại học RMIT (Royal Melbourne Institute of Technology), phân hiệu tại TP HCM (RMIT). Thuỷ thủ đoàn cũng sẽ đón một nhóm học sinh khuyết tật của trường Bình Minh, ngôi trường được dự án Loreto Việt Nam-Australia hỗ trợ, lên thăm tàu và thuỷ thủ đoàn cũng sẽ tận dụng cơ hội khám phá đất nước và con người Việt Nam.

 

Đại tá Không quân Matthew Dudley, Tuỳ Viên Quốc Phòng Australia Việt Nam phát biểu: “Đây là cơ hội tuyệt vời để củng cố hơn nữa mối quan hệ hợp tác quốc phòng Australia-Việt Nam. Mối quan hệ này đã được xây dựng từ năm 1999 và đã được tái khẳng định trong buổi hội đàm giữa Bộ trưởng Quốc phòng hai nước vào tháng 8 năm nay. Từ năm 1999, quân độiAustralia đã giúp đào tạo hơn 1.200 quân nhân của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại ViệtNam và Australia. Tôi được biết thuỷ thủ đoàn của tàu HMAS SYDNEY đang rất mong chờ chuyến thăm này và đây sẽ là một điểm nhấn trong hải trình lần này của tàu”.

Chỉ huy tàu HMAS SYDNEY là Đại tá Hải Quân Luke Charles-Jones. Tàu HMAS SYDNEY là tàu hộ vệ tên lửa thuộc lớp ADELAIDE được cải tiến với các chức năng phòng không, chống tàu ngầm, hải giám và trinh sát Tàu HMAS SYDNEY có khả năng tác chiến phòng không, mặt nước và dưới nước cùng một lúc.

Tàu có lực giãn nước 4.200 tấn, dài 138m, được trang bị tên lửa đối không SM-2, tên lửa đối hải Harpoon Block 2, súng máy Mk 75 76 mm,và hệ thống chống tên lửa Mk-15 Phalanx 20mm và 6 ống phóng lôi Mk 32. Tàu HMAS SYDNEY cũng có sân cho trực thăng cất hạ cánh và hangar cho 2 trực thăng. Tàu có tốc độ tối đa 29 hải lý/giờ.

Sau đây là một số hình ảnh của con tàu:
 Ảnh minh họa
 
 Ảnh minh họa
 
 Ảnh minh họa


Đan Khanh
Read more…

Ba lực lượng đáng sợ của Việt Nam ở Biển Đông khiến Trung Quốc sợ hãi

10:30:00 PM |

Đài Phượng Hoàng (20/10/2012) - Các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Quốc tế, ông Teng Jianqun nhận xét về cuộc chiến ngày 14 tháng 3 năm 1988 Trung Quốc và Việt Nam ở quần đảo Trường Sa, về cơ bản Trung Quốc được coi là giành chiến thắng, nhưng điều quan trọng là  Hạm đội Biển Nam Trung Hoa, sợ quân đội Việt Nam ở ba lực lượng: các tàu tên lửa, sợ các lực lượng đặc biệt ở Việt Nam, lực lượng đặc công nước rất tinh vi nguy hiểm, và thứ ba là  sợ lực lượng máy bay chiến đấu cất cánh từ đất liền Việt Nam.

 


Wang Xia: Sự thật duy nhất rằng, việc sử dụng vũ lực cuối cùng cũng không thể giải quyết được vấn đề, nếu như dùng vũ lực trong hai đến ba năm có thể ép buộc để giải quyết vấn đề, thử nhìn lại lịch sử, đã hơn hai thập kỷ trôi qua mà chưa giải quyết được vấn đề.

Tao Jie: Luôn luôn cần phải sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề, tại sao chúng ta lại phải cần giải quyết vấn đề một cách hòa bình, chúng ta đã có một tàu sân bay để giúp giải quyết vấn đề...

Chiến sĩ đặc công người nhái Đoàn đặc công hải quân 126 huấn luyện làm chủ vũ khí khí tài mới.
Chiến sĩ đặc công người nhái Đoàn đặc công hải quân 126 huấn luyện làm chủ vũ khí khí tài mới.

Teng Jianqun: Chúng tôi cần cho bạn một ví dụ đơn giản, ngày 14 Tháng Ba 1988, trong quần đảo Trường Sa Việt Nam và Trung Quốc đã có một trận chiến giành dật các đảo đá, về cơ bản là Trung Quốc đã chiến thắng, nhưng Trung Quốc chỉ làm tổn thương được đối phương bằng các loại súng pháo, tôi đã được tham gia cùng với lực lượng Hạm đội Nam Hải, điều chúng tôi sợ nhất ở lực lượng của Việt Nam là ba loại trang thiết bị vũ khí và lực lượng chiến đấu, thứ nhất là lực lượng tàu tên lửa ,bởi vì lực lượng Hạm đội Nam Hải đóng ở đảo Hải Nam xa xôi với khoảng cách từ 1.600 dặm đến 1.800 dặm đối với quần đảo Trường Sa; thứ hai là sợ Lực lượng đặc biệt của Việt Nam, lực lượng đặc công nước rất tinh vi và nguy hiểm, và thứ ba là nỗi sợ hãi đối với lực lượng máy bay chiến đấu cất cánh từ đất liền Việt Nam, ba lo lắng là lý do tại sao chúng tôi không thể kiểm soát và dành ưu thế trên không, tuy nhiên khi đã có tàu sân bay chúng ta có thể không còn sợ ba lực lượng nguy hiểm này.

Li Jie: Tôi cầu nguyện cho hòa bình, hoặc giải quyết vấn đề và giành chiến thắng theo phương cách hòa bình và phải có sức mạnh riêng của mình, tôi có thể không ủng hộ việc sử dụng biện pháp vũ lực như những người trên, tôi cầu nguyện cho hòa bình, cả hai bên phải ngồi xuống và đàm phán, đó là biện pháp cuối cùng để giải quyết vấn đề, tại sao Hoa Kỳ, bao gồm cả Vương quốc Anh... có cả các hàng không mẫu hạm lớn nhất thế giới và các trang thiết bị vũ khí tiên tiến nhất mà trong cùng cách thức giải quyết thì đầu tiên họ vẫn dùng biện pháp hòa bình để giải quyết vấn đề ...

Huyi Hu: Cảm ơn bạn, vâng rất tốt.

Su-30MK2 Việt Nam trên mạng nước ngoài
Cận cảnh dàn chiến đấu cơ Su-30MK2V của Việt Nam tại một căn cứ Không quân.

Su-30MK2 Việt Nam trên mạng nước ngoài
Chiến đấu cơ Su-30MK2V số hiệu 8535 đang chạy trên đường băng

Happy: Tôi lắng nghe tất cả mọi ý kiến của mọi người, về vấn đề thông qua việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề này, tôi nghĩ rằng thời đại của quá khứ và bây giờ là hoàn toàn khác nhau, chiếc tàu sân bay chỉ hữu ích hơn trong thời bình, ví dụ như trong cuộc khủng hoảng tại Libya, nếu Trung Quốc có tàu sân bay thì sẽ sơ tán được nhiều người Trung Quốc hơn, cũng như trên  thế giới lợi ích kinh tế của Trung Quốc ở khắp mọi nơi, và Trung Quốc cần nhiều hơn các kỷ nguyên của hòa bình để bảo vệ một số lợi ích kinh tế của mình, tôi nghĩ thế này tàu sân bay có thể đóng một vai trò như một nơi cung cấp dịch vụ vai trò cho các máy bay rất tốt, phải đi từ kỷ nguyên hòa bình, Trung Quốc cần một thế giới có thể hiểu được mình...

Huyi Hu: Vì vậy, bạn sợ, bạn đang sợ, từ quan điểm của bạn, bạn sẽ nói tàu sân bay sẽ không được sử dụng cho vấn đề Biển Đông Trung Quốc, sẽ không sử dụng để giải quyết vấn đề Biển Nam (Biển Đông)...

Theo: Đài Phượng Hoàng
Read more…

Việt Nam một trong những khách hàng lớn của Granit-Elektron/Гранит-Электрон

7:50:00 PM |

Le Bourget, ngày 23 Tháng Mười. (ARMS-TASS). Cty Concern Granit-Elektron/Гранит-Электрон là một công ty liên doanh cổ phần chuyên nghiên cứu sản xuất các trang thiết bị vũ khí điện tử cho lực lượng hải quân Nga. Theo ông Pavel Antonov Phó tổng giám đốc Cty Concern Granit-Elektron/Гранит-Электрон cho biết, số lượng đặt hàng của lực lượng hải quân Nga đã vượt quá lượng đặt hàng của các đơn hàng của nước ngoài chiếm từ 40 đến 60%. Ông phát biểu tại "Euronaval 2012" ngày 23 tháng 10.



Trong số các khách hàng ưu tiên của doanh nghiệp này ngoài Ấn Độ thì Việt Nam họ đang thực hiện một chương trình đầy tham vọng là hiện đại hóa mọi khía cạnh của lực lượng hải quân, trong khi đó những đơn hàng được thực hiện tại Nga cũng được trang bị các hệ thống vũ khí điện tử của Granit-Elektron/Гранит-Электрон .

Là người đứng đầu của công ty, mặc dù có một số vấn đề nhưng trong những năm gần đây chất lượng các sản phẩm đã được cải thiện.



Tất cả các tàu ngầm hạt nhân và tàu diesel điện của Hải quân Nga đã sử dụng các radar của công ty phát triển và các hệ thống thiết bị nghe nhìn...và an toàn hàng hải như kính tiềm vọng .v.v.. để đảm bảo sử dụng hiệu quả vũ khí. Kênh radar thụ động của các trạm thu phát sóng cung cấp hiệu quả các tín hiệu thu phát, phát hiện các phương tiện điện tử vô tuyến phát ra của đối phương và để kịp thời đưa ra các phương thức ngăn chặn khả năng bị phát hiện bởi các tàu chống tàu ngầm.

Một tính năng đặc trưng của các thiết bị radar được phát triển bởi"Granit-Elektron" là dựa trên đa tần số, đa chức năng sử dụng với các đơn vị cơ sở và với các yếu tố của trí thông minh nhân tạo được tạo ra bởi các chuyên gia, do đó các trang thiết bị điện tử này đạt được một hiệu suất hiệu quả cao, trọng lượng tối thiểu và các đặc điểm kích thước và khả năng sử dụng. Các chuyên gia lưu ý rằng nguyên tắc của thiết bị và cách sử dụng không đồng bộ các trang thiết bị sẽ dẫn đến hiệu suất haotj động và hiệu quả không cao . 

Theo: armstass
Read more…

Nước Pháp với Biển Đông: Đối với Hoàng Sa

5:31:00 AM |

(Toquoc)-Nước Pháp nhận thức tầm quan trọng Hoàng Sa, Trường Sa đối với phòng thủ Đông Dương, đã tiếp quản 2 quần đảo này với tư cách nhà nước bảo hộ.
Hiệp ước Patenôtre năm 1884 ký giữa Pháp với triều đình Huế ấn định dứt khoát chế độ bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam. Theo đó, quân đội Pháp có thể lui tới tất cả mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam và “tiếp quản” quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với tư cách là nhà nước bảo hộ.
Theo một văn bản của Phủ Toàn quyền Đông Dương, ngày 6/5/1921, lần đầu tiên có vấn đề các đảo Hoàng Sa trong hồ sơ của Phủ Toàn quyền là vào năm 1898, khi Bộ thuộc địa Pháp nhận được một thông báo của Lãnh sự Pháp ở Hải Khẩu (Trung Quốc) đã lưu ý Toàn quyền Đông Dương về lợi ích mà vị trí địa lý của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đem lại đối với Đông Dương.
Trạm quan trắc khí tượng do người Pháp xây dựng tại Hoàng Sa năm 1932
Sau khi đã căn bản ổn định việc xác lập chế độ bảo hộ trên toàn cõi Đông Dương, đồng thời khi Nhật Bản và Trung Quốc bắt đầu dòm ngó các đảo trên Biển Đông, chính quyền thuộc địa Pháp bắt đầu quan tâm củng cố sự quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Hoàng Sa đối với phòng thủ và sự toàn vẹn lãnh thổ Liên bang
Ngày 8/3/1925, Toàn quyền Đông Dương tuyên bố  các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đất của nước Pháp. Quyết định này xuất phát từ những lý do an ninh và chiến lược phòng thủ Đông Dương, được Khâm sứ Trung Kỳ Le Fol phân tích trong lá thư gửi Toàn quyền Đông Dương, với nhận định: “Trong tình hình hiện nay, không ai phủ nhận tầm quan trọng chiến lược rất lớn của các đảo Paracels (Hoàng Sa). Trong trường hợp có xung đột, việc nước ngoài chiếm đóng chúng sẽ là một mối đe dọa nghiêm trọng nhất có thể có đối với việc phòng thủ và sự toàn vẹn lãnh thổ của Liên bang.
Một đối phương có thể thấy ở đó một căn cứ hải quân hùng mạnh nhờ những vũng và nhiều nơi tàu đậu tuyệt vời, và do tính chất của chúng thực tế là không thể đánh bật. Một đội tàu ngầm dựa vào căn cứ đó có thể, không những phong tỏa cảng Đà Nẵng là cảng quan trọng nhất ở Trung Kỳ, mà còn cô lập Bắc Kỳ bằng cách ngăn cản việc đi đến Bắc Kỳ bằng đường biển. Lúc đó, để liên lạc  giữa Nam Kỳ với Bắc Kỳ ta phải dùng đường sắt hiện có, một con đường rất dễ bị đánh vì chạy dọc bờ biển, pháo hải quân đặt trên các chiến  hạm có thể mặc sức phá hủy.
Người Pháp và người Việt Nam đồn trú tại Hoàng Sa đang đào giếng nước ngọt năm 1938
Đồng thời, mọi con đường thông  thương giữa Đông Dương - Viễn Đông - Thái Bình Dương sẽ bị cắt đứt; hải lộ Sài Gòn - Hồng Kông đi gần quần đảo Paracels, do đó nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của căn cứ đặt trên các đảo”.
Chính phủ Pháp, cũng như chính quyền thuộc địa Đông Dương do “đánh giá đầy đủ tính nghiêm trọng” của vấn đề, đã tiến hành tái chiếm đóng và thực thi quyền kiểm soát đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
Bộ trưởng Hải quân Pháp (quyền Bộ trưởng Bộ thuộc địa), trong thư trả lời Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, ngày 18/2/1929, liên quan đến Hoàng Sa, ghi nhận rằng, “đối với nhóm đảo không người ở này, An Nam có những quyền  lịch sử khó tranh cãi hơn nhiều so với các quyền mà Trung Hoa Dân quốc có thể đòi hỏi, và nước Pháp, là nước có nghĩa vụ giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ của vương quốc được bảo hộ, tốt nhất là làm thế nào để không bị bất ngờ trước “chuyện đã rồi” do Trung Quốc thực hiện”.
Tư liệu cổ Việt Nam “là luận cứ tốt nhất” về mặt ngoại giao
Trong khi Paris còn do dự, Toàn quyền Đông Dương viết cho Bộ trưởng Thuộc địa, nhấn mạnh “đã đến lúc chúng ta  phải tiến lên trước và khẳng định các quyền dường như đã được công nhận  bởi cả các tư liệu lịch sử lẫn các thực tế địa lý”.
Sự ngập ngừng của nước Pháp xuất phát từ những tính toán về quan hệ Pháp-Hoa và các quyền lợi của Pháp ở Trung Quốc. Nhưng bức thư của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp ngày 18/10/1930 đã đặt dấu chấm hết cho sự lưỡng lự của chính phủ Paris. Bức thư có đề cập đến những bản sao nguyên các tư liệu rút ra từ kho lưu trữ của phủ Khâm sứ Trung Kỳ và của triều đình Huế gửi Paris, có đoạn viết: “Các tư liệu đó, mà tôi gửi kèm theo bốn bản phụ lục và bốn bản đồ là những tư  liệu duy nhất liên quan đến các đảo ở quần đảo Hoàng Sa, có thể tìm thấy ở Huế. Chắc hẳn ngài cũng đánh giá như tôi rằng chúng đã đủ để xác định không thể tranh cãi rằng An Nam đã thực sự nắm sở hữu quần đảo, và làm như vậy trước năm 1909 nhiều. Năm 1909 là năm người Trung Quốc dường như đã thể hiện lần đầu tiên các yêu sách của họ về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Thực vậy, chính Hoàng đế Gia Long cũng chỉ tiếp tục lại một truyền thống có từ trước khi ngài lập lại Đội Hoàng Sa vào năm 1816, chịu trách nhiệm dưới các triều đại trước đây cuả An Nam, tiến hành mỗi năm một chuyến đi ra các đảo ở Hoàng Sa vào tháng 3 rồi trở về vào tháng 5 và nộp ở kinh thành những sản phẩm thu lượm được trên các đảo.
Chuyến đi do con vua Gia Long là vua Minh Mạng chỉ thị chứng tỏ là trong  triều đại nhà Nguyễn có sự liên tục về quan điểm mà Chính phủ Trung Quốc sẽ gặp trở ngại rất nhiều nếu họ muốn giành thế thắng.
Bia chủ quyền do Pháp xây dựng tại Hoàng Sa những năm 1930. Bia này là sự tiếp nối  bia chủ quyền được Vua Minh Mạng cho xây dựng tại Hoàng Sa đầu thế kỷ 19
Tôi cho rằng cần phải  đặc biệt nhấn mạnh giá trị của tập tư liệu này, tư liệu theo quan điểm của tôi sẽ là luận cứ tốt nhất của chúng ta, trong trường hợp có các tranh cãi ngoại giao với Trung Quốc”.
Ngày 24/4/1932, chính phủ Pháp đã có kháng nghị nêu rõ các danh nghĩa lịch sử và các bằng chứng về sự chiếm hữu của An Nam, sau đó là của Pháp đối với Hoàng Sa.
Cùng năm 1932, Pháp đề nghị đưa vụ tranh chấp Hoàng Sa ra các tòa án quốc tế, nhưng Trung Quốc đã từ chối chấp nhận đề nghị này. Đồng thời, theo Bản ghi chú ngày 25/5/1950 của Cố vấn pháp luật Bộ Ngoại giao Pháp gửi vụ châu Á Bộ Ngoại giao Pháp, vào các năm 1937 và 1947, Chính phủ Trung Quốc cũng từ chối chấp nhận gợi ý của chính phủ Pháp đưa tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa ra giải quyết trước tài phán quốc tế. Như vậy dưới thời Pháp thuộc, Pháp 3 lần đề nghị và Trung Quốc đều từ chối đưa tranh chấp Hoàng Sa ra trọng tài quốc tế.
Ngày 26/11/1937, Pháp phái kỹ sư trưởng  công chính J. Gauthier ra Hoàng Sa để nghiên cứu tìm địa điểm xây dựng đèn biển, bãi đỗ cho thủy phi cơ và các điều kiện định cư ở quần đảo này.
Tháng 6/1938, một đơn vị lính bảo an Việt Nam được phái ra đồn trú tại Hoàng Sa. Một bia chủ quyền được dựng trên đảo Hoàng Sa.
Ngày 5/5/1939, Toàn quyền Đông Dương J. Brévié ký quyết định tách đơn vị hành chính Hoàng Sa thành hai đơn vị hành chính “Croissant và các đảo phụ thuộc” và  Amphitrite và các đảo phụ thuộc”.
Đầu tháng 1/1947, một phái đoàn quân sự Pháp đến đảo Hoàng Sa.
Ngày 14/10/1950, chính phủ Pháp chính thức trao cho chính phủ Bảo Đại quyền kiểm soát các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa./.

Bài tiếp: Nước Pháp với Biển Đông: Đối với Trường Sa
Read more…